Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013
Bộ trưởng Đầu tư: 'Việt Nam đang mất dần lợi thế thu hút FDI'
Bộ trưởng Đầu tư: 'Việt Nam đang mất dần lợi thế thu hút FDI'
Bộ trưởng Bùi Quang Vinh nhìn nhận thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam đang thua Thái Lan, Indonesia do mất dần lợi thế về nhân công, tài nguyên và chính sách ưu đãi.
Vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) luôn chiếm một phần tư trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, các
doanh nghiệp FDI cũng là động lực chính góp phần gia tăng xuất khẩu, kiểm soát nhập
siêu. Điều này cho thấy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn là sách lược
quan trọng với Việt Nam. Tuy nhiên, từ năm 2012 đến nay xuất hiện nhiều dự án
FDI bị thu hồi, chậm tiến độ, dòng vốn FDI cũng bị chững lại.
Trong chương trình
Dân hỏi - Bộ trưởng trả lời tối 7/7, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu
tư Bùi Quang Vinh đã có những giải đáp cụ thể về tình hình thu hút đầu tư nước
ngoài của Việt Nam hiện nay.
- Nhật Bản vẫn
là nhà đầu tư số một tại Việt Nam nhưng hiện đã đổ hàng tỷ USD vào Myanmar. Nhiều
doanh nghiệp lớn khác của Nhật Bản cũng tuyên bố mở rộng nhiều cơ sở tại Thái Lan,
Malaysia... trong khi các cơ sở của họ tại Việt Nam vẫn án binh bất động. Chẳng
hạn Nhật Bản hiện có 7.000 doanh nghiệp ở Thái Lan nhưng ở Việt Nam mới có
1.500. Những ví dụ này nói lên điều gì về cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài
của Việt Nam, thưa Bộ trưởng?
- Thông tin về Nhật
Bản có nhu cầu đầu tư hàng tỷ USD vào Myamar là không chính xác vì nước này mới
tuyên bố mở cửa cách đây khoảng 7 tháng. Hiện nay, các quốc gia đều đang rất
quan tâm đến Myanmar, trong đó có Nhật Bản nhưng họ cũng chưa đổ hàng tỷ USD vào
đây mà mới chỉ trong giai đoạn nghiên cứu, thăm dò để có những dự án lớn.
Nhưng với thị trường
Thái Lan và Indonesia thì là đúng. Đây là hai thị trường rất hấp dẫn trong khu
vực châu Á và đã mở cửa trước Việt Nam rất nhiều. Thực tế, Thái Lan và Indonesia
có môi trường thu hút đầu tư nước ngoài rất cạnh tranh, do đó, việc Nhật Bản có
7.000 doanh nghiệp đang đầu tư ở Thái Lan so với 1.500 doanh nghiệp ở Việt Nam
thì cũng bình thường.
Trong những năm vừa
qua, vốn FDI đăng ký của Việt Nam không giảm nhiều, nhưng nếu so với thời kỳ đỉnh
cao 2009 thì thực sự là giảm mạnh. Vốn thực hiện thì không suy giảm nhiều. Có nhiều
người không đồng tình với quan điểm này nhưng tôi có số liệu từ năm 2005 đến
2013, vốn FDI thực hiện bình quân ở 11 tỷ USD, 6 tháng đầu năm nay đã giải ngân
được 5,7 tỷ USD, cao hơn nhiều cùng kỳ năm trước.
Hiện nay chúng ta
đã khôn ngoan hơn, chính sách chặt chẽ hơn nên chênh lệch giữa vốn đăng ký và
thực hiện đã thu hẹp lại. Đây là điều rất tốt. Tuy nhiên, so với các nước bên cạnh,
chẳng ai đứng lại cũng như bị tụt hạng, tất cả đều đi lên và đi lên nhanh hơn.
Cách đây 20 năm,
Việt Nam là mảnh đất màu mỡ cho đầu tư nước ngoài vì lao động rất rẻ, tài
nguyên nhiều và ưu đãi lớn, thậm chí chúng ta bỏ tiền ra để giải phóng mặt bằng
cho họ. Nhưng bây giờ những lợi thế đó dần mất đi và chúng ta phải thắt chặt lại,
chọn những dự án công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, ít ô nhiễm môi trường
hơn, khiến thu hút FDI trở nên khó khăn. Trong khi đó, hạ tầng của Việt Nam
không tốt, thủ tục hành chính chưa được cải thiện nhiều, dẫn đến môi trường của
chúng ta giảm xuống.
Nhân công giá rẻ
cũng không còn là lợi thế nữa vì kinh tế Việt Nam đã có tăng trưởng, thu nhập
bình quân đầu người tăng lên nên mức lương tối thiểu cũng tăng lên. Đây là điểm
mà doanh nghiệp nước ngoài rất sợ.
So với tiến bộ của
Thái Lan và Indonesia thì có thể Việt Nam có nhiều mặt hơn, nhưng thực sự chúng
ta đang thua kém về tốc độ.
- Việt Nam đã
ưu đãi các nhà đầu tư nước ngoài 20 năm và những chính sách ưu đãi sẽ còn phát
huy đến khi nào?
- Sẽ còn ưu đãi
trong thời gian rất dài vì không ưu đãi thì nhà đầu tư không vào, bởi họ tìm kiếm
lợi nhuận, nước nào cũng như vậy, chỉ có điều là ưu đãi như thế nào. Chẳng hạn
giai đoạn đầu trải thảm đỏ mở cửa những giờ thì không, Việt Nam chỉ ưu đãi những
ngành tạo ra giá trị gia tăng cao, nói cách khác là vẫn phải ưu đãi nhưng ưu
đãi thế nào cho hợp lý, tạo ra lợi ích cho quốc gia và lợi ích cho cả doanh
nghiệp.
- Liên quan đến
việc hàng loạt dự án đầu tư trực tiếp ngoài bị thu hồi do để hoang hóa, không đảm
bảo tiến độ đã cam kết nhưng lại không có chủ đầu tư nào phải bồi thường, thậm chí
để có đất sạch giao cho các chủ đầu tư thì hàng nghìn gia đình đã phải di dời.
Theo Bộ trưởng, tại sao lại có tình trạng như vậy?
- Chế tài để phạt
các doanh nghiệp này rất khó. Chúng tôi đã nghiên cứu thì không một nước nào
trên thế giới có quy định phạt doanh nghiệp nước khác mà chỉ có chung chế tài
là sẽ thu hồi nếu dự án chậm tiến độ. Hiện tôi đang học kinh nghiệm của thế giới
để Việt Nam có cách làm khác đi.
Thứ nhất, về chủ
trương tôi đồng ý rất nhanh chóng, không thẩm định quá lâu miễn là doanh nghiệp
có dự án, tính toán hiệu quả, lúc đó có thể tạm cấp đất cho chủ đầu tư.
Sau 2 năm, nếu chủ
đầu tư hoàn thành cơ bản tiến độ và chấp nhận được thì tôi sẽ kiểm tra lại và cấp
phép thực tế. Căn cứ vào công nghệ của doanh nghiệp, lúc đó tôi mới cấp ưu đãi
là doanh nghiệp công nghệ cao.
- Để tính toán
hiệu quả thực sự của nguồn vốn FDI thì chúng ta cũng phải biết chi phí đã bỏ ra
để thu hút những đồng vốn đó. Thưa Bộ trưởng, liệu có tỷ lệ gì để làm rõ việc
này không, như để thu hút 1 USD đầu tư trực tiếp nước ngoài thì chúng ta phải bỏ
ra bao nhiêu, ngoài ra còn chi phí để xúc tiến đầu tư, những ưu đãi thuế, tài
nguyên đất và đầu tư cơ sở hạ tầng?
- Không ai có thể
tính được và không một quốc gia nào có thể tính được. Nhưng theo tôi, từng dự
án có thể xác định được mức bỏ ra và thu về. Chính từ so sánh này mà chính quyền
địa phương và Chính phủ có thể quyết định dự án đó được thực hiện hay không thực
hiện.
Nhưng tựu chung lại,
lĩnh vực đầu tư nước ngoài đang chiếm tỷ trọng vô cùng quan trọng với kinh tế
Việt Nam. Tổng mức đầu tư trực tiếp nước ngoài đang chiếm 1/4 vào tổng vốn đầu
tư xã hội và có chất lượng cao. Trên 60% kim ngạch xuất khẩu đến từ lĩnh vực
FDI, các doanh nghiệp này cũng tạo ra 2 triệu việc làm trực tiếp mà tới đây có
thể tăng lên 3 triệu và mang đến cho Việt Nam công nghệ mới, cách quản lý và
làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Điều này
chúng ta không phủ nhận được.
Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013
7 Công cụ cơ bản quản trị chất lượng
7 Công cụ cơ bản (7 QC Tools):
7 công cụ kiểm soát chất lượng cơ bản ( 7 Basic Quality Control Tools – 7 QC Tools) được xem là những hành trang không thể thiếu nhằm đạt được mục tiêu “Chất lượng toàn diện”, mang lại sự hài lòng cho khách hàng với chi phí thấp nhất.Ishikawa, một trong những nhà khoa học hàng đầu thế giới về quản lý chất lượng đã nhận định rằng, 95% các vấn đề trong doanh nghiệp sẽ chủ động hơn, hiệu quả hơn trong công việc nhận diện các vấn đề của mình (ví dụ: các lãng phí, kém hiệu quả trong quá trình; các nguyên nhân gây ra lỗi sản phầm; các cơ hội cải tiến…), xác định được đâu là nguyên nhân gốc của vấn đề, định ra được thứ tự ưu tiên vấn đề cần giải quyết để đạt hiệu quả cao trong việc sử dụng các nguồn lực, từ đó đưa ra được quyết định đúng đắn để giải quyết vấn đề.
2. Biểu đồ Pareto (Pareto chart): sử dụng các cột để minh họa các hiện tượng và nguyên nhân, nhóm lại các dạng như là các khuyết tật, tái sản xuất, sửa chữa, khiếu nại, tai nạn và hỏng hóc. Các đường gấp khúc được thêm vào để chỉ ra tần suất tích luỹ.
3. Biểu đồ nhân quả (Ishikawa diagram)́ : chỉ mối liên hệ giữa các đặc tính mục tiêu và các yếu tố, những yếu tố dường như có ảnh hưởng đến các đặc tính, biểu diễn bằng hình vẽ giống xương cá.
4. Biểu đồ phân bố (Histogram): là một dạng của đồ thị cột trong đó các yếu tố biến động hay các dữ liệu đặc thù được chia thành các lớp hoặc thành các phần và được diễn tả như các cột với khoảng cách lớp được biểu thị qua đường đáy và tần suất biểu thị qua chiều cao.
5. Biểu đồ kiểm soát (Control chart): Biểu đồ kiểm soát là đồ thị đường gấp khúc biểu diễn giá trị trung bình của các đặc tính, tỷ lệ khuyết tật hoặc số khuyết tật. Chúng được sử dụng để kiểm tra sự bất thường của quá trình dựa trên sự thay đổi của các đặc tính (đặc tính kiểm soát). Biểu đồ kiểm soát bao gồm 2 loại đường kiểm soát: đường trung tâm và các đường giới hạn kiểm soát, được sử dụng để xác định xem qúa trình có bình thường hay không. Trên các đường này vẽ các điểm thể hiện chất lượng hoặc điều kiện quá trình. Nếu các điểm này nằm trong các đường giới hạn và không thể hiện xu hướng thì quá trình đó ổn định. Nếu các điểm này nằm ngoài giới hạn kiểm soát hoặc thể hiện xu hướng thì tồn tại một nguyên nhân gốc
6. Biểu đồ phân tán (Scatter diagram)́ : Biểu đồ phân tán chỉ ra mối quan hệ giữa 2 biến trong phân tích bằng số. Để giải quyết các vấn đề và xác định điều kiện tối ưu bằng cách phân tích định lượng mối quan hệ nhân quả giữa các biến số.
7. Biểu đồ phân vùng (Stratified diagram): Phân vùng thông thường để tìm ra nguyên nhân của khuyết tật.
II. Tại sao cần áp dụng 7 công cụ kiểm soát chất lượng?
- Nâng cao uy tín
- Chất lượng tốt hơn
- Giảm chi phí liên quan đến chất lượng
- Các mục tiêu chất lượng trở nên rõ ràng hơn
- Giảm chi phí
- Giảm thiểu các sự cố, hỏng hóc máy móc…
- BẢY CÔNG CỤ QUẢN LÝ VÀ HOẠCH ĐỊNH
(SEVEN MANAGEMENT AND PLANNING TOOLS -7 MP)
1.GIỚI THIỆU:Bảy công cụ quản lý và hoạch định bao gồm:- Biểu đồ quan hệ (Afinity diagram): Mục đích biểu đồ quan hệ nhằm thu thập và sắp xếp số lượng lớn các ý tưởng, quan điểm, suy nghĩ …về các vấn đề liên quan đến sản phẩm hoặc quá trình.- Biểu đồ tương quan (Interrelationship diagraph): Mục đích biểu đồ tương quan nhằm tổ chức và xác định mối tương quan nhân quả (nguyên nhân-kết quả) của một vấn đề.Các kết quả từ biểu đồ quan hệ (Afinity diagram) là đầu vào của biểu đồ tương quan- Biểu đồ cây (Tree Diagram): Mục đích biểu đồ cây xác định các hành động, giải pháp nhằm đạt được mục tiêu, cải tiến quá trình, cải tiến tính năng sản phẩm. Biểu đồ cây thể hiện mối quan hệ giữa vấn đề và giải pháp/hành động.- Biểu đồ ma trận ( Matrix Diagram):Mục đích biểu đồ ma trận nhằm xác định hành động cần thực hiện và người chịu trách nhiệm thực hiện. Có nhiều loại biểu đồ ma trận:
Ma trận L:Biểu đồ mô tả mối tương quan giữa hai vấn đề/hai biến thể hiện dưới dạng cột/hàng.
Ma trận T: Kết hợp hai ma trận L, được sử dụng để so sánh, nghiên cứu hai vấn đề/biến số liên quan vấn đề thứ ba/biến số thứ ba- Biểu đồ Glyph ( GLYPH Diagram):Mục đích của biểu đồ Glyph nhằm đánh giá và lựa chọn giải pháp tối ưu- Biểu đồ quá trình ra quyết định (Process Decision Program Chart): Mục đích biểu đồ quá trình ra quyết định nhằm xây dựng kế hoạch ứng phó rủi ro/các tình huống không mong muốn khác. Phòng ngừa hoặc ứng phó các vấn đề tiềm ẩn trước khi xảy ra và phục hồi nhanh chóng khi vấn đề phát sinh.- Biểu đồ mũi tên (Arrow Diagram):Biểu đồ mũi tên nhằm hoạch định các dự án phức tạp và cung cấp khung thời gian theo dõi tiến độ dự ánLỢI ÍCH:Triết lý Deming và hệ thống quản lý chất lượng toàn diện-TQM có các mục tiêu chính như sau:1. Tập trung đáp ứng và vượt quá mong đợi khách hàng;2. Thiết lập giải pháp đáp ứng các yêu cầu khách hàng3. Sử dụng 7 công cụ kiểm soát chất lượng (7 quality control tools) để hiểu các nhu cầu khách hàng và cải tiến quá trình, thu thập và sử dụng các dữ liệu;4. Nâng cao tinh thần làm việc theo nhóm thông qua việc xây dựng chính sách, cải tiến quá trình, và giải quyết vấn đềBảy công cụ quản lý và hoạch định (7MP) kết hợp bảy công cụ kiểm soát chất lượng (7QC tools) nhằm đạt được hai mục tiêu cuối cùng.Bảy công cụ quản lý chất lượng không đáp ứng đầy đủ các yêu cầu phát sinh từ thực tế quản lý và các hoạt động nhóm (quá trình sáng tạo và quản lý dự án).Do vậy, người Nhật đã phát triển 7 công cụ quản lý và hoạch định.
14 điểm quản trị chất lượng của Edward Deming
14 điểm quản trị chất lượng của Edward Deming
1. Kiên
định với mục tiêu cải tiến sản phẩm và dịch vụ. Create constancy of purpose
for improvement of product and service (Organizations must allocate resources
for long-term planning, research, and education, and for the constant
improvement of the design of their products and services)
2. Chấp
nhận cái mới. Adopt the new philosophy (government regulations representing
obstacles must be removed, transformation of companies is needed)
3. Chấm
dứt ngay sự lệ thuộc vào việc kiểm tra mang tính phong trào. Cease
dependence on mass inspections (quality must be designed and built into the
processes, preventing defects rather than attempting to detect and fix them
after they have occurred)
4. Ngừng
ngay việc lựa chọn các bên cung ứng trên cơ sở giá hời. End the practice of
awarding business on the basis of price tags alone (organizations should
establish long-term relationships with [single] suppliers)
5. Thường
xuyên và liên tục cải tiến hệ thống sản xuất và dịch vụ. Improve constantly
and forever the system of production and service (management and employees must
search continuously for ways to improve quality and productivity)
6. Thực
hành đào tạo về nghề nghiệp. Institute training (training at all levels is a
necessity, not optional)
7. Khẳng
định vai trò của lãnh đạo cao cấp. Adopt and institute leadership (managers
should lead, not supervise)
8. Không
e ngại trong việc bày tỏ ý kiến, quan điểm. Drive out fear (make employees
feel secure enough to express ideas and ask questions)
9. Tháo
gỡ các hàng rào ngăn cách giữa các bộ phận. Break down barriers between
staff areas (working in teams will solve many problems and will improve quality
and productivity)
10.
Hạn chế các khẩu hiệu, lời hô hào suông,
thúc đẩy công nhân làm việc mà không cung cấp các phương pháp cho họ. Eliminate
slogans, exhortations, and targets for the work force (problems with quality
and productivity are caused by the system, not by individuals. Posters and
slogans generate frustration and resentment)
11.
Hạn chế các định mức công việc theo chỉ
tiêu số lượng. Eliminate numerical quotas for the work force and numerical
goals for people in management (in order to meet quotas, people will produce
defective products and reports)
12.
Xóa bỏ sự cách biệt để người công nhân có
quyền tự hào về công việc. Remove barriers that rob people of pride of
workmanship (individual performance reviews are a great barrier to pride of
achievement)
13.
Thực hiện một chương trình rộng rãi về đào
tạo và sự hoàn thiện. Encourage education and self-improvement for everyone
(continuous learning for everyone)
14.
Mọi người trong công ty phải luôn luôn phấn
đấu để theo kịp các biến đổi. Take action to accomplish the transformation
(commitment on the part of both [top] management and employees is required).
Thứ Năm, 18 tháng 4, 2013
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


