Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013

Sở hữu chéo và những dạng biến thể

Sở hữu chéo và những dạng biến thể

Đang có những biểu hiện khác lạ chứng minh một màn kịch mới về tình trạng sở hữu chéo lộ diện trong việc ma bán cổ phiếu của Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu (ACB).
Cuối quý 1/2013 khi chốt danh sách cổ đông để chuẩn bị đại hội thường niên năm 2013, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) nhận thấy trong số những nhà đầu tư có một tổ chức là một ngân hàng khác đang sở hữu 1,8% cổ phiếu ACB.

Sang đầu tháng 6/2013, số lượng cổ phiếu ACB do tổ chức này nắm giữ đã tăng lên thành 3%, chứng tỏ họ thường xuyên mua vào để nâng tỷ lệ.

Cùng thời điểm đó, ACB thông báo (công bố thông tin trên trang web của Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM) đã mua khoảng 16,1 triệu cổ phiếu quỹ với tổng giá trị 260 tỉ đồng.

Trước đó ngân hàng công khai sẽ mua khoảng 55,4 triệu cổ phiếu quỹ với số tiền dự tính hơn 1.000 tỉ đồng. Lý do ACB không mua hết cổ phiếu quỹ như đăng ký được giải thích là “biến động giá của thị trường không phù hợp”.
Có một điểm mà dư luận đang lo ngại: nợ xấu của hệ thống ngân hàng càng cao, thì sở hữu chéo ngân hàng càng chằng chịt.
Có một điểm mà dư luận đang lo ngại: nợ xấu của hệ thống ngân hàng càng cao, thì sở hữu chéo ngân hàng càng chằng chịt.
Những màn kịch mới

Giới tài chính đoán già đoán non ACB ngưng mua cổ phiếu quỹ vì trong thời gian ACB mua, giá cổ phiếu có nhích lên, ngày biến động cao điểm chừng 10%, chưa kể ngân hàng đã trả cổ tức và thị giá thông thường được điều chỉnh giảm tương ứng. Không ai muốn mua đắt, nên ACB ngưng mua.

Số khác đưa ra giả thiết ACB đã thương thảo được với những nhà đầu tư lớn và sẽ mua thỏa thuận của những người này trong một thời điểm thích hợp, nên không cần mua khớp lệnh trên sàn nữa.

Chẳng phải ngẫu nhiên ACB mua cổ phiếu quỹ. Một nhóm nhà đầu tư với sự hậu thuẫn của những nguồn vốn vay khác nhau, đã không ngưng nghỉ mua vào cổ phiếu ACB kể từ khi giá của nó lao dốc sau sự kiện bầu Kiên.

Một nhà đầu tư trong nhóm nói rằng họ không có ý định thâu tóm, họ mua đơn thuần vì thấy giá cổ phiếu ACB đang thấp hơn giá trị thực. Tuy không khẳng định chính thức, có lý do để tin nhóm của ông đã có trong tay tầm 5 - 10% cổ phần ACB.

Cho dù tổng tài sản sụt giảm mạnh trong năm ngoái và lợi nhuận trước thuế nửa đầu năm nay chỉ bằng 50% so với cùng kỳ, nhưng ACB là một ngân hàng minh bạch và có nền tảng tốt. ACB đang tiếp tục hành trình thoái hết những khoản đầu tư tài chính, trở lại với kinh doanh cốt lõi là ngân hàng bán lẻ.

Á Châu đã chuyển nhượng sở hữu ở các ngân hàng Eximbank, Đại Á, Kiên Long và đang thương thảo số cổ phần nắm giữ ở VietBank (Ngân hàng Việt Nam Thương Tín). Hầu hết những khoản đầu tư trên đều có lời ở mức độ khác nhau và việc thoái vốn củng cố tiềm lực tài chính của ngân hàng.

Bên nhận chuyển nhượng những cổ phiếu ngân hàng mà ACB bán ra chủ yếu thuộc các nhóm đầu tư tài chính, đã và đang là cổ đông của không ít tổ chức tín dụng. Hầu hết những màn kịch chuyển nhượng, kể cả của cổ đông nước ngoài, họ cũng tham gia.

Họ đã từng mua lại khoảng 7% cổ phần một ngân hàng từ một quỹ đầu tư nước ngoài. Tổng giám đốc quỹ đầu tư ngoại - bên bán - thừa nhận họ (nhóm đầu tư trên) là người duy nhất có thể mua, còn tiền mua từ đâu thì ông lắc đầu, không biết.

Cây tầm gửi sở hữu chéo

Đầu năm nay, báo chí đã hơn một lần lên tiếng phản ánh khi trước thềm đại hội cổ đông, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Nam công khai trong tài liệu gửi cổ đông và công bố rộng rãi cho nhà đầu tư biết, đưa ra một ứng cử viên vào hội đồng quản trị vốn có liên quan đến một nhóm tội phạm đã bị xóa sổ trong quá khứ.

Ngân hàng Nhà nước dĩ nhiên bác bỏ phương án này và việc chuyển nhượng nhằm giảm tỷ lệ sở hữu của một nhóm cổ đông lớn tại đây vẫn chưa thể thực hiện. Điều đáng nói là nhóm cổ đông này cũng đang nắm giữ tỷ lệ cổ phần lớn ở một ngân hàng khác.

Cho đến nay nếu cứ chiểu theo giấy trắng mực đen, theo Luật Các tổ chức tín dụng, không có cổ đông thể nhân nào sở hữu quá 5% cổ phần một ngân hàng. Cũng không có pháp nhân nào nắm giữ quá 15% cổ phần một tổ chức tín dụng.

Thế nhưng trên thực tế tình trạng lại không hẳn như vậy. Cổ phần ngân hàng được đứng tên dưới nhiều người khác nhau, có người thậm chí cả đời chưa một lần đặt chân tới ngân hàng như anh lái xe, cô giúp việc nhà, ông làm vườn, bà vú…

Cựu chủ tịch hội đồng quản trị một ngân hàng kể hồi ông còn tại vị, một cổ đông cho biết sở hữu hơn 20% cổ phần ngân hàng và trưng ra danh sách 50 người đứng tên giùm. Ông tá hỏa khi biết đó là sự thật.

Phải gọi việc sở hữu cổ phần ngân hàng dưới tên những người đứng tên giùm là ma trận. Ai đứng tên giùm ai, cách thức chuyển nhượng ra sao, tiền mua tiền bán đến và đi như thế nào, chỉ người trong cuộc biết. Không ai dại gì đem những mối quan hệ đó ra ánh sáng, công khai cho thiên hạ rõ.

Đến khi cần thiết phải sử dụng quyền của những cổ đông lớn nhằm phủ quyết hoặc thông qua một quyết sách của ngân hàng, đến khi cần vay mượn những khoản tín dụng ưu đãi cho các công ty sân sau, những ông chủ thật mới lộ diện.

Cách đây 5-7 năm, hiện tượng một cá nhân hay pháp nhân tham gia vốn vào nhiều hơn hai ngân hàng đã có, nhưng chỉ ở quy mô nhỏ với mục đích sử dụng vốn ngân hàng tài trợ cho những địa chỉ của chính họ. Việc liên kết giữa cổ đông ngân hàng này với cổ đông ngân hàng khác, tạo thành những khối cổ đông đủ sức thao túng thị trường tiền tệ không xảy ra.

Đến năm 2010 với sự suy thoái trầm trọng của thị trường chứng khoán, giá cổ phiếu ngân hàng giảm sâu, sự liên kết bắt đầu xuất hiện và ngày càng hiện diện chặt chẽ. Khi đó cơ hội sở hữu một ngân hàng trở nên rộng mở.

Trước đây khi thị giá cổ phiếu ngân hàng từ vài chấm đến mười mấy chấm, người ta phải có tiền tỉ mới sở hữu được mấy phần trăm một ngân hàng. Nay thì khác. Vài ngàn tỉ đồng có thể “làm sạch” một ngân hàng!

Không ai có nhiều “tiền tươi thóc thật” đến mức đứng ra mua đứt một ngân hàng. Cách thức đầu tư ngân hàng là cuốn chiếu. Có một đồng, họ vay ngân hàng một đồng, thành ra có hai đồng. Lấy hai đồng ấy mua cổ phiếu ngân hàng, mang cổ phiếu thế chấp, vay tiền mua tiếp.

Không có ngân hàng nào đủ lực và đủ liều lĩnh dám cho vay để đầu tư cả một ngân hàng khác. Muốn vay được nhiều tiền, phải chi phối được ngân hàng cho vay. Cứ thế sở hữu chéo lan ra, như cây tầm gửi, leo hết ngân hàng này đến ngân hàng nọ.

Vay tiền ngân hàng A đầu tư ngân hàng B. Vay tiền ngân hàng B đầu tư ngân hàng C. Vay tiền ngân hàng C đầu tư ngược trở lại ngân hàng A… Cái chuỗi liên kết đó có sức mạnh ghê gớm, nó khống chế, công phá ban tổng giám đốc các ngân hàng. Từ đây, việc chi phối thị trường tiền tệ và cao hơn là thị trường vốn chỉ còn là vấn đề thời gian.

Nợ xấu và sở hữu chéo

Trong hội thảo mới đây “Rủi ro sở hữu chéo và đầu tư chéo” do Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia tổ chức ngày 31/7/2013, các diễn giả đã đề cập nhiều đến tác hại của sở hữu chéo đối với nền kinh tế, đến sự phát triển thị trường tài chính. Tuy nhiên câu hỏi tháo gỡ sở hữu chéo như thế nào, bằng các biện pháp gì, chưa được đào sâu như kỳ vọng.

Trực tiếp giám sát các ngân hàng như Thanh tra của Ngân hàng Nhà nước cũng cho rằng thật không dễ khi phát hiện và xử lý sở hữu chéo. Làm sao có đủ bằng chứng để chứng minh cổ phiếu ngân hàng do bà B đứng tên thực chất là thuộc quyền sở hữu của ông A?

Ở các nước, các ngân hàng niêm yết chịu sự quản lý của cơ quan chứng khoán, nhưng ngân hàng niêm yết ở ViệtNamvẫn thuộc quyền quản lý của Ngân hàng Nhà nước nhiều hơn.

Nói vậy để thấy nếu Thanh tra Ngân hàng Nhà nước mà bó tay với sở hữu chéo, thì liệu Trung tâm lưu ký chứng khoán hay Thanh tra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có thể làm rõ trắng đen? Quyền lực của cơ quan chứng khoán đối với ngân hàng không thể so sánh với quyền lực của Ngân hàng Nhà nước.

Vỏ quýt dày, móng tay nhọn. Nhìn từ xuất phát điểm một trong những mục đích chủ yếu mà sở hữu chéo ngân hàng hướng tới là vay được tiền (mục đích khác có thể là thâu tóm để làm một ngân hàng trở nên mạnh hơn hoặc yếu nhằm hạ bệ nó để cạnh tranh) cho những đối tượng định trước, thì tập trung thanh tra tín dụng, tìm đường đi của đồng vốn, mối quan hệ giữa các đối tượng vay vốn… là việc cơ quan quản lý không thể bỏ qua.

Một ngân hàng, thí dụ có vốn chủ sở hữu 4.000-5.000 tỉ đồng, mà nợ xấu có khả năng mất vốn lên tới mười mấy ngàn tỉ đồng, thì rõ ràng tín dụng ở đây có vấn đề. Không một ban tổng giám đốc nào lại đủ nghị lực ký các hợp đồng tín dụng cho vay nhiều rủi ro đến thế trừ trường hợp họ biết rõ người vay là ai, có quan hệ ra sao với các cổ đông chóp bu của ngân hàng.

Có một điểm mà dư luận đang lo ngại: nợ xấu của hệ thống ngân hàng càng cao, thì sở hữu chéo ngân hàng càng chằng chịt. Đành rằng nợ xấu chủ yếu là do kinh tế suy giảm, doanh nghiệp thua lỗ, sử dụng vốn vay không hiệu quả, không trả được nợ.

Nhưng nợ xấu còn có nguyên nhân từ cho vay công ty sân sau, từ rót vốn quá quy định cho những đối tượng cần kiểm soát, từ vay vốn để đầu tư tài chính… Đây mới là tác động tiêu cực sâu xa của sở hữu chéo ngân hàng, đòi hỏi phải được khắc phục, tiến tới xóa bỏ càng nhanh càng tốt.
Theo Doanh nhân Sài Gòn

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

Sở hữu chéo làm rối loạn vốn, lợi ích nhóm cục bộ

Sở hữu chéo làm rối loạn vốn, lợi ích nhóm cục bộ

(ĐVO) –"Việc giám sát nguồn vốn trách nhiệm đã quá rõ ràng, vì đã để dòng vốn không đi đúng mục tiêu mà lại đi phục vụ cho các mục đích khác. Do vậy khuyết điểm trong quản lý, chỉ đạo của ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại là rõ ràng".
TS. Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chia sẻ với Đất Việt những vấn đề liên quan đến ma trận sở hữu chéo và đầu tư chéo trên thị trường tài chính thời gian qua.
TS Cao Sy Kiêm: Sở hữu chéo đang gây hậu họa cho thị trường vốn và đặc biệt là hoạt động của ngân hàng khi tiền tệ bị méo mó.
TS. Cao Sy Kiêm: Sở hữu chéo đang gây hậu họa cho thị trường vốn và đặc biệt là hoạt động của ngân hàng khi tiền tệ bị méo mó.
Dồn lợi ích cho một số nhóm cục bộ
PV: - Tại hội thảo “"Rủi ro sở hữu chéo và đầu tư chéo: Thực trạng và giải pháp cho thị trường tài chính" được tổ chức sáng 31/7 tại Hà Nội, ông Nguyễn Xuân Thành có trình bày ma trận sở đầu tư, sở hữu chéo giữa các Tập đoàn Kinh tế Nhà nước với hệ thống các ngân hàng thương mại. Ông có thể nói rõ hơn về cách dùng vốn ngân sách của các Tập đoàn kinh tế nhà nước đầu tư sang lĩnh vực ngân hàng tạo mối liên kết chéo để dễ dàng điều chỉnh các dòng tài chính này? Có thể hiểu hiện tượng này là lũng đoạn nền kinh tế không, thưa ông?
TS. Cao Sỹ Kiêm: - Tôi nghĩ rằng việc này rất nghiêm trọng và đang gây hậu họa cho thị trường vốn và đặc biệt là hoạt động của ngân hàng khi tiền tệ bị méo mó. Bây giờ phải giải quyết khâu này nếu không tất cả vốn dồn vào cho một số lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ dưới danh nghĩa sở hữu chéo nhưng sự thực là dồn vốn cho các doanh nghiệp thành viên, những cổ đông trong ngân hàng chứ không đưa vốn ra ngoài. Thông qua các công ty con, các nhóm này phục vụ cho quyền lợi của riêng mình. 
Bây giờ phải có những giải pháp quyết liệt để bớt những mối liên hệ căn bản của nó, nếu kéo dài sẽ dẫn đến tất cả dòng vốn không tập trung theo hướng chỉ đạo mà chỉ phục vụ cho lợi ích nhóm riêng.
Xử lý không đơn giản
PV: - Vậy với ma trận này, theo ông, đây có phải là nguyên nhân chính dẫn đến thất thoát vốn ngân sách, dẫn đến tình trạng trì trệ, kém hiệu quả trong sản xuất  của các Tập đoàn kinh tế Nhà nước? Ông nghĩ sao về việc giám sát nguồn vốn ngân sách tại các Tập đoàn kinh tế Nhà nước? Ma trận sở hữu chéo này có là nguyên nhân vô hiệu hóa việc thanh tra, giám sát vốn?
TS. Cao Sỹ Kiêm: - Tôi cho rằng đây không phải là nguyên nhân duy nhất nhưng cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng thất thoát vốn.
Có nhiều tổ chức tín dụng chi phối bởi một nhóm cổ đông và dư nợ của nhóm cổ đông này và các khách hàng có liên quan chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng dư nợ của một tổ chức tín dụng, thậm chí có thể chiếm tới 90%”.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình nói trước Quốc hội hồi tháng 11/2012.

 
Còn với việc giám sát nguồn vốn trách nhiệm đã quá rõ ràng, vì đã để dòng vốn không đi đúng mục tiêu mà lại đi phục vụ cho các mục đích khác. Do vậy khuyết điểm trong quản lý, chỉ đạo của ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại là rõ ràng.
Tất nhiên cái này cũng khó bởi nếu có cấm đoán từ trước thì việc sở hữu chéo có thể vẫn diễn ra vì các ngân hàng, cổ đông thông đồng với nhau. Đến khi phát hiện cũng khó xử lý chứ không phải đơn giản.
PV: - Theo nhận định của các chuyên gia, sở hữu chéo ở Việt Nam hiện nay đang 1 lợi, 10 hại thế nhưng nếu ra tay làm mạnh thì có thể dẫn đến nguy cơ sập hệ thống ngân hàng, nhưng chậm thì việc tái cơ cấu hệ thống coi như lỡ dở. Ông nghĩ sao về nhận định này?
TS. Cao Sỹ Kiêm: - Tôi nghĩ rằng nếu làm mạnh tay, triệt được hẳn việc này thì không lo nguy cơ sập hệ thống ngân hàng, mà lo rằng khi mạnh tay không đúng hoặc mục tiêu không rõ thì có thể dẫn đến hiện tượng tràn lan và xử vào những chỗ không phải tội như thế thì cũng có nguy cơ hỏng việc.
Không thể nói chuyện không làm ở đây. Tuy nhiên làm thì phải có cơ chế, mục tiêu, phối hợp quản lý chặt chẽ nhịp nhàng giữa cơ chế và các ngành chức năng với nhau thì mới làm được.
Nếu không thì sẽ giống như việc rút viên gạch ở cuối cùng của một chồng gạch sẽ bị đổ cục bộ.
Nếu không giải quyết sở hữu chéo lúc này sẽ làm tăng thêm nhiều nguy cơ và việc tái cấu trúc cũng không đạt yêu cầu.
"Tôi xin nói thật, kể cả cơ quan công an vào cũng không dễ dàng gì. Xử lý vấn đề nghiêm trọng nhất của sở hữu chéo chính là việc ngăn chặn thao túng của các cá nhân, cổ đông lớn biến các ngân hàng thành ngân hàng “sân sau” của mình".
Ông Dương Quốc Anh (phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia)
PV: - Thưa Tiến sĩ, như ý kiến trong hội thảo, việc ngân hàng nhà nước dùng sở hữu chéo để xử lý 9 ngân hàng yếu kém là giải pháp có thể đem lại lợi ích trước mắt nhưng sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề trong tương lai. Xin ông nói rõ hơn về vấn đề này?
TS TS Cao Sỹ Kiêm: -  Cũng phải công nhận rằng việc sở hữu chéo cũng có những mặt tích cực nhất định, thúc đẩy mối liên kết giữa các đối tác kinh doanh, giảm thiểu các tác động tiêu cực từ bên ngoài, hoặc trong bối cảnh điều kiện kinh tế thay đổi quá nhanh.
Đặc biệt sở hữu chéo tạo nguồn tài chính dồi dào, bền vững. Tuy nhiên, có được điều này là khi dòng vốn phải được đặt đúng tiêu chí, đúng địa chỉ.
Nếu bị lợi ích nhóm cục bộ chi phối thì nền kinh tế sẽ không được gì. Sở hữu chéo lúc này sẽ làm tăng tác hại lên, do vậy phải kiên quyết làm đến cùng.
Xin trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi!
Có tới 8 nhóm vấn đề có thể phát sinh từ hoạt động đầu tư chéo.

Thứ nhất, việc sở hữu chéo có thể dẫn tới các giao dịch bất hợp lý, phi thị trường (unfair) giữa các tổ chức có quan hệ sở hữu lẫn nhau. Các giao dịch này có thể dẫn tới các hành vi chuyển giá, trốn thuế…

Thứ hai, việc sở hữu chéo ảnh hưởng tiêu cực tới công tác quản trị công ty. Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp có thể đưa ra các quyết định không thuần túy vì mục đích kinh doanh, không hoàn toàn vì lợi ích của doanh nghiệp, lợi ích của cổ đông, đặc biệt là cổ đông nhỏ lẻ, cổ đông không nắm giữ quyền chi phối, quản lý, điều hành doanh nghiệp.

Thứ ba, việc sở hữu chéo có thể làm giảm mức độ minh bạch và sức cạnh tranh cũng như động lực phát triển trong hoạt động doanh nghiệp, từ đó làm giảm tính minh bạch và sức cạnh tranh của nền kinh tế; tạo ra sự e ngại, tác động không tốt tới việc thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt từ các cổ đông chiến lược.

Thứ tư, việc sở hữu chéo, đặc biệt trong trường hợp các ngân hàng sở hữu cổ phần chi phối tại các doanh nghiệp không hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, một mặt, giúp các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn với chi phí hợp lý, mặt khác chính điều này làm giảm động lực phát triển, giảm tính năng động, tạo sức ỳ lớn cho doanh nghiệp.

Thứ năm, tiềm ẩn rủi ro thị trường cho danh mục các cổ phiếu, cổ phần của các công ty con, công ty liên doanh, liên kết… Trường hợp là các cổ phiếu niêm yết và thị trường suy giảm, thiệt hại của danh mục đầu tư này làm giảm tổng giá trị tài sản của các tổ chức tín dụng, giảm năng lực tín dụng, từ đó làm giảm thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

Thứ sáu, việc sở hữu chéo làm bóp méo (tăng) giá trị doanh nghiệp và giá trị cổ phiếu (bị đội giá trị - double counting). Ngoài ra, việc sở hữu chéo còn có thể dẫn tới tình trạng tăng vốn ảo. Cụ thể, các doanh nghiệp phát hành riêng lẻ cho nhau, hạch toán sở hữu cổ phiếu (bù trừ cho nhau) và không kèm theo việc thanh toán bằng tiền. Trong trường hợp tăng vốn ảo từ việc sở hữu chéo, các cổ đông khác sẽ bị thiệt hại do tác động của hiện tượng pha loãng làm sụt giảm giá thị trường của cổ phiếu.

Thứ bảy, sở hữu chéo còn tác động tiêu cực tới thị trường chứng khoán, đặc biệt tại các doanh nghiệp niêm yết. Lý do là các cổ đông sở hữu chéo thông thường nắm giữ cổ phần của nhau trong một thời gian dài, mà nếu lượng cổ phiếu nắm giữ bởi các cổ đông này quá lớn, phần cổ phiếu tự do chuyển nhượng (free floating shares) còn lại ít thì cổ phiếu đó rất dễ là đối tượng của các hoạt động lạm dụng, thao túng thị trường.
Bích Ngọc (Thực hiện)

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

Ngân hàng Nhà nước đứng trước ma trận sở hữu chéo

Ngân hàng Nhà nước đứng trước ma trận sở hữu chéo

(ĐVO) – Sở hữu chéo đang khiến cho nền kinh tế bị bóp nghẹt bởi nợ xấu, vốn ảo và hàng loạt hệ lụy khác, song Ngân hàng Nhà nước lại đang dùng chính nó để giải quyết nó khiến giới chuyên môn lo ngại.

Theo TS. Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, dù chưa gọi đây là hiện tượng lũng đoạn nền kinh tế nhưng cũng có hơi hướng của việc lũng đoạn ngân hàng.
PV: - Tại Hội thảo “Rủi ro sở hữu chéo và đầu tư chéo: Thực trạng và giải pháp cho thị trường tài chính" được tổ chức sáng 31/7 tại Hà Nội, ông Nguyễn Xuân Thành có trình bày ma trận sở đầu tư, sở hữu chéo giữa các Tập đoàn Kinh tế Nhà nước với hệ thống các ngân hàng thương mại. Ông có thể nói rõ hơn về cách dùng vốn ngân sách của các Tập đoàn kinh tế nhà nước đầu tư sang lĩnh vực ngân hàng tạo mối liên kết chéo để dễ dàng điều chỉnh các dòng tài chính này? 
TS. Lê Đăng Doanh: - Có thể hiểu đây là việc dùng vốn không đúng mục tiêu. Các doanh nghiệp có vốn đáng ra sẽ phải được dùng vào những nhiệm vụ mà nhà nước giao. Đằng này họ lại đi đầu tư vào chứng khoán, bất động sản, ngân hàng…
Bây giờ khi buộc phải yêu cầu thoái vốn thì lại lấy lý do là bán dưới giá thành sẽ lỗ nên chậm thoái vốn.
Ông Nguyễn Xuân Thành
Ông Nguyễn Xuân Thành
Ông Nguyễn Xuân Thành- Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright
Trao đổi riêng với Đất Việt về việc có ý kiến cho rằng sở hữu chéo ở Việt Nam hiện nay đang 1 lợi, 10 hại thế nhưng nếu ra tay làm mạnh thì có thể dẫn đến nguy cơ sập hệ thống ngân hàng, nhưng chậm thì việc tái cơ cấu hệ thống coi như lỡ dở, ông Thành cho rằng đó là quan điểm riêng của các nhà quản lý nhà nước.
Riêng ông Thành thì cho rằng vẫn có thể giải quyết được sở hữu chéo. Đương nhiên khi nói làm nhanh, từ từ hay làm ngay chỉ mang tính ước đoán định tính.
"Nhưng hiện nay nói rằng cần lộ trình song thực ra lại không làm gì và khiến cho sở hữu chéo trở nên trầm trọng hơn. Đương nhiên là cần có một quá trình nhưng buộc phải làm.
Về mặt chính sách quan điểm của tôi rất rõ ràng là giải quyết sở hữu chéo là một nội dung của tái cấu trúc. Thế nhưng cách làm hiện nay là dùng sở hữu chéo để tái cấu trúc là cách làm ngược và những nguy cơ của nó thì cũng đã được các chuyên gia nói rất rõ là sẽ gây ra nhiều rủi ro và vẫn tiềm ẩn", ông Thành nói.
Tuy nhiên hiện tượng này chưa nên gọi là lũng đoạn nền kinh tế bởi lũng đoạn là khi làm một việc mà người khác không còn có giải pháp nào chống đỡ được.
Do vậy đây chưa thể coi là lũng đoạn nền kinh tế được. Tuy nhiên cũng phải nói rằng luật không cho phép nhưng hiện tượng các “đại gia” lũng đoạn ngân hàng ai cũng biết song chưa có giải pháp xử lý hữu hiệu.
PV: - Vậy với ma trận này, theo ông, đây có phải là nguyên nhân chính dẫn đến thất thoát vốn ngân sách, dẫn đến tình trạng trì trệ kém hiệu quả trong sản xuất và dẫn thẳng đến bờ vực phá sản của các Tập đoàn kinh tế Nhà nước? Ông nghĩ sao về việc giám sát nguồn vốn ngân sách tại các Tập đoàn kinh tế Nhà nước? Ma trận sở hữu chéo này có là nguyên nhân vô hiệu hóa việc thanh tra, giám sát vốn?
TS. Lê Đăng Doanh: - Tôi nghĩ rằng họ đầu tư như vậy sẽ không tập trung được vào nhiệm vụ chính của họ và bây giờ đã quyết định là phải thoái vốn nhưng việc thoái vốn hiện nay là quá chậm.
 
PV: - Theo nhận định của các chuyên gia, sở hữu chéo ở Việt Nam hiện nay đang 1 lợi, 10 hại thế nhưng nếu ra tay làm mạnh thì có thể dẫn đến nguy cơ sập hệ thống ngân hàng, nhưng chậm thì việc tái cơ cấu hệ thống coi như lỡ dở. Ông nghĩ sao về nhận định này?
TS. Lê Đăng Doanh: - Tôi nghĩ rằng không nên nghĩ những chuyện to tát như vậy bởi trên thực tế cần có một lộ trình để thực hiện.
Do vậy tôi nghĩ rằng ngân hàng nhà nước cần đưa ra lộ trình và tiến độ rõ ràng để giải quyết việc xóa sở hữu chéo này.
PV: - Thưa Tiến sĩ, như ý kiến trong hội thảo việc Ngân hàng Nhà nước dùng sở hữu chéo để xử lý 9 ngân hàng yếu kém là giải pháp có thể đem lại lợi ích trước mắt nhưng sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề trong tương lai. Xin ông nói rõ hơn về vấn đề này?
TS. Lê Đăng Doanh: - Đây là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Để cứu các ngân hàng yếu kém Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng này sáp nhập lại tức là lại thêm sở hữu chéo. Chuyện này có thể tạm thời chấp nhận.
Ở các nước khác người ta dùng vốn ngân sách để cứu sau đó một thời gian ngân hàng này khỏe lên thì họ bán ra có khi lại còn được lãi.
Nhưng ở đây trong trường hợp này thì ngân sách không mất đồng nào cả cho nên buộc ngân hàng nhà nước phải dùng như vậy thôi.
Xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ!
Bích Ngọc (Thực hiện)

Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013

Một số bài mới


Đề án môn học K52 nhóm thày Minh

 


Sinh hoạt khoa học khoa Đầu tư: Phát triển đường sắt Việt Nam

Lớp Đầu tư 52A Chuyên ngành Kinh tế Đầu tư

Lớp Kinh tế Đầu tư 52B

Lớp 52 C chuyên ngành Kinh tế Đầu tư

Lớp 52D chuyên ngành Kinh tế Đầu tư

Khoa Đầu tư thăm làng văn hóa các dân tộc

Các bước tiến hành của phương pháp so sánh trực tiếp

Ưu, nhược điểm của phương pháp thặng dư

Ưu, nhược điểm của phương pháp lợi nhuận

Phương pháp chi phí giảm giá (Các bước tiến hành, Ưu nhược điểm, Cách xác định chi phí)

Bài tập định giá tài sản đầu tư 1

Bài tập định giá tài sản đầu tư 2

Ôn tập môn quản lý dự án – Đối với cao học viên ngành Kinh tế Đầu tư

Bài tập Quản lý dự án

Ôn thi cao học môn Quản lý dự án - lớp ngoài ngành Kinh tế Đầu tư

Định giá thương hiệu

Lý luận về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp

Lý luận đầu tư phát triển trong doanh nghiệp 2

Những vấn đề cơ bản về đầu phát triển trong doanh nghiệp truyền tải điện

Đầu tư phát triển công nghiệp phụ trợ đóng tàu của Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam giai đoạn 2001-2015: Thực trạng và giải pháp

Huy động vốn thông qua phát hành chứng khoán ra công chúng tại NHTMCP B

NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG FDI Ở VIỆT NAM

Thu hút FDI vào tỉnh P giai đoạn 2006 – 2020

Quản lý các dự án vốn

Những vấn đề lý luận về đầu tư phát triển trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản

Lý luận về đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại ngân hàng thương mại

Hoàn thiện công tác lập dự án tại công ty X

Hoàn thiện công tác thẩm định dự án tại công ty Y

Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại

Hoàn thiện công tác thẩm định dự án ngành Z tại Ngân hàng B

Hoàn thiện công tác thẩm định dự án của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Nam Hà Nội

Quản lý nhà nước các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Bài tập: Đánh giá tác động của đầu tư đến nền kinh tế

Ôn thi môn chuyên đề tự chọn – Phân tích đầu tư

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn viện trợ

Nghịch lý đầu tư, nhìn từ các khu kinh tế

Nghịch lý đầu tư cho khoa học công nghệ

Nghịch lý cắt giảm đầu tư công

Nợ công và hiệu quả của đầu tư công

Việt Nam liệu có thành Israel thứ hai?

“Hội chứng” lập khu kinh tế, cuộc đua lãng phí

Quy hoạch kiểu tam giác ngược

Bất bình đẳng và bất ổn

Đầu tư nước ngoài: Trước viễn cảnh cạnh tranh với Myanmar

Đến lúc phải chuyển hướng thu hút FDI

Nợ công Việt Nam có thực sự an toàn?

Cái gốc của nợ công

Doanh nghiệp Nhà nước: Của ai, do ai và vì ai?

Nhận dạng khó khăn của các khu kinh tế ven biển

Hành chính cai trị hay hành chính phục vụ?

Khi “chỉ định thầu” không còn ý nghĩa “cấp bách”….

Kinh tế Việt Nam trước sức ép thay đổi

ODA và sáu năm lặng tắt

Điểm danh các dự án ODA có sai phạm, tiêu cực

“Đừng ăn cái bánh do may mắn mang lại”

Lời nguyền tài nguyên

“Lời nguyền tài nguyên” và nguy cơ của một nước làm thuê

Cơ chế chất lượng cao để kinh tế VN cất cánh

“Lấy lại hình ảnh đất nước không phải để được nhận ODA!”

Đẳng cấp nền kinh tế tùy thuộc hệ thống hành chính

Liên kết kinh tế vùng: từ lý thuyết đến thực tiễn Việt Nam

Nợ công ở châu Âu và bài học về quản lý nhà nước

Báo cáo về Kinh nghiệm phát triển hợp tác xã tại Bang Quebec, Canađa

Đầu tư vào giao thông: Đầu tư theo “phong trào”

Đầu tư gạch ốp lát: Vẫn là đầu tư theo phong trào

Đầu tư mạo hiểm: Rót tiền cho những bản sao?

“Nói đầu tư công nghiệp theo phong trào là chưa chính xác”

“Trảm” đầu tư theo phong trào

Đầu tư phát triển cụm công nghiệp: Lại theo “phong trào”

Đầu tư theo phong trào: Nhiều doanh nghiệp thép sẽ phá sản

Đầu tư phong trào, chết theo dây chuyền

‘Không điều tiết nền kinh tế bằng doanh nghiệp Nhà nước’

Chi tiêu công cộng là gì ?

Bộ trưởng Đầu tư: 'Việt Nam đang mất dần lợi thế thu hút FDI'



Bộ trưởng Đầu tư: 'Việt Nam đang mất dần lợi thế thu hút FDI'


Bộ trưởng Bùi Quang Vinh nhìn nhận thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam đang thua Thái Lan, Indonesia do mất dần lợi thế về nhân công, tài nguyên và chính sách ưu đãi.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) luôn chiếm một phần tư trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, các doanh nghiệp FDI cũng là động lực chính góp phần gia tăng xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu. Điều này cho thấy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn là sách lược quan trọng với Việt Nam. Tuy nhiên, từ năm 2012 đến nay xuất hiện nhiều dự án FDI bị thu hồi, chậm tiến độ, dòng vốn FDI cũng bị chững lại.
Trong chương trình Dân hỏi - Bộ trưởng trả lời tối 7/7, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư Bùi Quang Vinh đã có những giải đáp cụ thể về tình hình thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam hiện nay.
- Nhật Bản vẫn là nhà đầu tư số một tại Việt Nam nhưng hiện đã đổ hàng tỷ USD vào Myanmar. Nhiều doanh nghiệp lớn khác của Nhật Bản cũng tuyên bố mở rộng nhiều cơ sở tại Thái Lan, Malaysia... trong khi các cơ sở của họ tại Việt Nam vẫn án binh bất động. Chẳng hạn Nhật Bản hiện có 7.000 doanh nghiệp ở Thái Lan nhưng ở Việt Nam mới có 1.500. Những ví dụ này nói lên điều gì về cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam, thưa Bộ trưởng?
- Thông tin về Nhật Bản có nhu cầu đầu tư hàng tỷ USD vào Myamar là không chính xác vì nước này mới tuyên bố mở cửa cách đây khoảng 7 tháng. Hiện nay, các quốc gia đều đang rất quan tâm đến Myanmar, trong đó có Nhật Bản nhưng họ cũng chưa đổ hàng tỷ USD vào đây mà mới chỉ trong giai đoạn nghiên cứu, thăm dò để có những dự án lớn.
Nhưng với thị trường Thái Lan và Indonesia thì là đúng. Đây là hai thị trường rất hấp dẫn trong khu vực châu Á và đã mở cửa trước Việt Nam rất nhiều. Thực tế, Thái Lan và Indonesia có môi trường thu hút đầu tư nước ngoài rất cạnh tranh, do đó, việc Nhật Bản có 7.000 doanh nghiệp đang đầu tư ở Thái Lan so với 1.500 doanh nghiệp ở Việt Nam thì cũng bình thường.
Trong những năm vừa qua, vốn FDI đăng ký của Việt Nam không giảm nhiều, nhưng nếu so với thời kỳ đỉnh cao 2009 thì thực sự là giảm mạnh. Vốn thực hiện thì không suy giảm nhiều. Có nhiều người không đồng tình với quan điểm này nhưng tôi có số liệu từ năm 2005 đến 2013, vốn FDI thực hiện bình quân ở 11 tỷ USD, 6 tháng đầu năm nay đã giải ngân được 5,7 tỷ USD, cao hơn nhiều cùng kỳ năm trước.
Hiện nay chúng ta đã khôn ngoan hơn, chính sách chặt chẽ hơn nên chênh lệch giữa vốn đăng ký và thực hiện đã thu hẹp lại. Đây là điều rất tốt. Tuy nhiên, so với các nước bên cạnh, chẳng ai đứng lại cũng như bị tụt hạng, tất cả đều đi lên và đi lên nhanh hơn.
Cách đây 20 năm, Việt Nam là mảnh đất màu mỡ cho đầu tư nước ngoài vì lao động rất rẻ, tài nguyên nhiều và ưu đãi lớn, thậm chí chúng ta bỏ tiền ra để giải phóng mặt bằng cho họ. Nhưng bây giờ những lợi thế đó dần mất đi và chúng ta phải thắt chặt lại, chọn những dự án công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, ít ô nhiễm môi trường hơn, khiến thu hút FDI trở nên khó khăn. Trong khi đó, hạ tầng của Việt Nam không tốt, thủ tục hành chính chưa được cải thiện nhiều, dẫn đến môi trường của chúng ta giảm xuống.
Nhân công giá rẻ cũng không còn là lợi thế nữa vì kinh tế Việt Nam đã có tăng trưởng, thu nhập bình quân đầu người tăng lên nên mức lương tối thiểu cũng tăng lên. Đây là điểm mà doanh nghiệp nước ngoài rất sợ.
So với tiến bộ của Thái Lan và Indonesia thì có thể Việt Nam có nhiều mặt hơn, nhưng thực sự chúng ta đang thua kém về tốc độ.
- Việt Nam đã ưu đãi các nhà đầu tư nước ngoài 20 năm và những chính sách ưu đãi sẽ còn phát huy đến khi nào?
- Sẽ còn ưu đãi trong thời gian rất dài vì không ưu đãi thì nhà đầu tư không vào, bởi họ tìm kiếm lợi nhuận, nước nào cũng như vậy, chỉ có điều là ưu đãi như thế nào. Chẳng hạn giai đoạn đầu trải thảm đỏ mở cửa những giờ thì không, Việt Nam chỉ ưu đãi những ngành tạo ra giá trị gia tăng cao, nói cách khác là vẫn phải ưu đãi nhưng ưu đãi thế nào cho hợp lý, tạo ra lợi ích cho quốc gia và lợi ích cho cả doanh nghiệp.
- Liên quan đến việc hàng loạt dự án đầu tư trực tiếp ngoài bị thu hồi do để hoang hóa, không đảm bảo tiến độ đã cam kết nhưng lại không có chủ đầu tư nào phải bồi thường, thậm chí để có đất sạch giao cho các chủ đầu tư thì hàng nghìn gia đình đã phải di dời. Theo Bộ trưởng, tại sao lại có tình trạng như vậy?
- Chế tài để phạt các doanh nghiệp này rất khó. Chúng tôi đã nghiên cứu thì không một nước nào trên thế giới có quy định phạt doanh nghiệp nước khác mà chỉ có chung chế tài là sẽ thu hồi nếu dự án chậm tiến độ. Hiện tôi đang học kinh nghiệm của thế giới để Việt Nam có cách làm khác đi.
Thứ nhất, về chủ trương tôi đồng ý rất nhanh chóng, không thẩm định quá lâu miễn là doanh nghiệp có dự án, tính toán hiệu quả, lúc đó có thể tạm cấp đất cho chủ đầu tư.
Sau 2 năm, nếu chủ đầu tư hoàn thành cơ bản tiến độ và chấp nhận được thì tôi sẽ kiểm tra lại và cấp phép thực tế. Căn cứ vào công nghệ của doanh nghiệp, lúc đó tôi mới cấp ưu đãi là doanh nghiệp công nghệ cao.
- Để tính toán hiệu quả thực sự của nguồn vốn FDI thì chúng ta cũng phải biết chi phí đã bỏ ra để thu hút những đồng vốn đó. Thưa Bộ trưởng, liệu có tỷ lệ gì để làm rõ việc này không, như để thu hút 1 USD đầu tư trực tiếp nước ngoài thì chúng ta phải bỏ ra bao nhiêu, ngoài ra còn chi phí để xúc tiến đầu tư, những ưu đãi thuế, tài nguyên đất và đầu tư cơ sở hạ tầng?
- Không ai có thể tính được và không một quốc gia nào có thể tính được. Nhưng theo tôi, từng dự án có thể xác định được mức bỏ ra và thu về. Chính từ so sánh này mà chính quyền địa phương và Chính phủ có thể quyết định dự án đó được thực hiện hay không thực hiện.
Nhưng tựu chung lại, lĩnh vực đầu tư nước ngoài đang chiếm tỷ trọng vô cùng quan trọng với kinh tế Việt Nam. Tổng mức đầu tư trực tiếp nước ngoài đang chiếm 1/4 vào tổng vốn đầu tư xã hội và có chất lượng cao. Trên 60% kim ngạch xuất khẩu đến từ lĩnh vực FDI, các doanh nghiệp này cũng tạo ra 2 triệu việc làm trực tiếp mà tới đây có thể tăng lên 3 triệu và mang đến cho Việt Nam công nghệ mới, cách quản lý và làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Điều này chúng ta không phủ nhận được.

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013

7 Công cụ cơ bản quản trị chất lượng


7  Công cụ cơ bản (7 QC Tools):

7  công cụ kiểm soát chất lượng cơ bản ( 7 Basic Quality Control Tools – 7 QC Tools) được xem là những hành trang không thể thiếu nhằm đạt được mục tiêu “Chất lượng toàn diện”, mang lại sự hài lòng cho khách hàng với chi phí thấp nhất.
Ishikawa, một trong những nhà khoa học hàng đầu thế giới về quản lý chất lượng đã nhận định rằng, 95% các vấn đề trong doanh nghiệp sẽ chủ động hơn, hiệu quả hơn trong công việc nhận diện các vấn đề của mình (ví dụ: các lãng phí, kém hiệu quả trong quá trình; các nguyên nhân gây ra lỗi sản phầm; các cơ hội cải tiến…), xác định được đâu là nguyên nhân gốc của vấn đề, định ra được thứ tự ưu tiên vấn đề cần giải quyết để đạt hiệu quả cao trong việc sử dụng các nguồn lực, từ đó đưa ra được quyết định đúng đắn để giải quyết vấn đề.

Untitled3 7 QC TOOLS   7 công cụ cơ bản kiểm soát chất lượng

1, Phiếu kiểm tra (Check sheet): được sử dụng cho việc thu thập dữ liệu. Dữ liệu thu được từ phiếu kiểm tra là đầu vào cho các công cụ phân tích dữ liệu khác, do đó đây bước quan trọng quyết định hiệu quả sử dụng của các công cụ khác.
image002 7 QC TOOLS   7 công cụ cơ bản kiểm soát chất lượng
2. Biểu đồ Pareto (Pareto chart): sử dụng các cột để minh họa các hiện tượng và nguyên nhân, nhóm lại các dạng như là các khuyết tật, tái sản xuất, sửa chữa, khiếu nại, tai nạn và hỏng hóc. Các đường gấp khúc được thêm vào để chỉ ra tần suất tích luỹ.
pareto 7 QC TOOLS   7 công cụ cơ bản kiểm soát chất lượng
3. Biểu đồ nhân quả (Ishikawa diagram)́ : chỉ mối liên hệ giữa các đặc tính mục tiêu và các yếu tố, những yếu tố dường như có ảnh hưởng đến các đặc tính, biểu diễn bằng hình vẽ giống xương cá.
nguyen nhan ket qua 7 QC TOOLS   7 công cụ cơ bản kiểm soát chất lượng
4. Biểu đồ phân bố (Histogram): là một dạng của đồ thị cột trong đó các yếu tố biến động hay các dữ liệu đặc thù được chia thành các lớp hoặc thành các phần và được diễn tả như các cột với khoảng cách lớp được biểu thị qua đường đáy và tần suất biểu thị qua chiều cao.
histogram 7 QC TOOLS   7 công cụ cơ bản kiểm soát chất lượng
5. Biểu đồ kiểm soát (Control chart): Biểu đồ kiểm soát là đồ thị đường gấp khúc biểu diễn giá trị trung bình của các đặc tính, tỷ lệ khuyết tật hoặc số khuyết tật. Chúng được sử dụng để kiểm tra sự bất thường của quá trình dựa trên sự thay đổi của các đặc tính (đặc tính kiểm soát). Biểu đồ kiểm soát bao gồm 2 loại đường kiểm soát: đường trung tâm và các đường giới hạn kiểm soát, được sử dụng để xác định xem qúa trình có bình thường hay không. Trên các đường này vẽ các điểm thể hiện chất lượng hoặc điều kiện quá trình. Nếu các điểm này nằm trong các đường giới hạn và không thể hiện xu hướng thì quá trình đó ổn định. Nếu các điểm này nằm ngoài giới hạn kiểm soát hoặc thể hiện xu hướng thì tồn tại một nguyên nhân gốc
kiem soat 7 QC TOOLS   7 công cụ cơ bản kiểm soát chất lượng
6. Biểu đồ phân tán (Scatter diagram)́ : Biểu đồ phân tán chỉ ra mối quan hệ giữa 2 biến trong phân tích bằng số. Để giải quyết các vấn đề và xác định điều kiện tối ưu bằng cách phân tích định lượng mối quan hệ nhân quả giữa các biến số.
scarter 7 QC TOOLS   7 công cụ cơ bản kiểm soát chất lượng
7. Biểu đồ phân vùng (Stratified diagram): Phân vùng thông thường để tìm ra nguyên nhân của khuyết tật.

II. Tại sao cần áp dụng 7 công cụ kiểm soát chất lượng?

  • Nâng cao uy tín
  • Chất lượng tốt hơn
  • Giảm chi phí liên quan đến chất lượng
  • Các mục tiêu chất lượng trở nên rõ ràng hơn
  • Giảm chi phí
  • Giảm thiểu các sự cố, hỏng hóc máy móc…
  • BẢY CÔNG CỤ QUẢN LÝ VÀ HOẠCH ĐỊNH
    (SEVEN MANAGEMENT AND PLANNING TOOLS -7 MP)
    1.GIỚI THIỆU:
    Bảy công cụ quản lý và hoạch định bao gồm:
    -        Biểu đồ quan hệ (Afinity diagram): Mục đích biểu đồ quan hệ nhằm thu thập và sắp xếp số lượng lớn các ý tưởng, quan điểm, suy nghĩ …về các vấn đề liên quan đến sản phẩm hoặc quá trình.
    -       Biểu đồ tương quan (Interrelationship diagraph): Mục đích biểu đồ tương quan nhằm tổ chức và xác định mối tương quan nhân quả (nguyên nhân-kết quả) của một vấn đề.Các kết quả từ biểu đồ quan hệ (Afinity diagram) là đầu vào của biểu đồ tương quan
    -        Biểu đồ cây (Tree Diagram): Mục đích biểu đồ cây xác định các hành động, giải pháp nhằm đạt được mục tiêu, cải tiến quá trình, cải tiến tính năng sản phẩm. Biểu đồ cây thể hiện mối quan hệ giữa vấn đề và giải pháp/hành động.
    -       Biểu đồ ma trận ( Matrix Diagram):Mục đích biểu đồ ma trận nhằm xác định hành động cần thực hiện và người chịu trách nhiệm thực hiện. Có nhiều loại biểu đồ ma trận:
    *    Ma trận L:Biểu đồ mô tả mối tương quan giữa hai vấn đề/hai biến thể hiện dưới dạng cột/hàng.
    *    Ma trận T: Kết hợp hai ma trận L, được sử dụng để so sánh, nghiên cứu hai vấn đề/biến số liên quan vấn đề thứ ba/biến số thứ ba
    -     Biểu đồ Glyph ( GLYPH Diagram):Mục đích của biểu đồ Glyph nhằm đánh giá và lựa chọn giải pháp tối ưu
    -     Biểu đồ quá trình ra quyết định (Process Decision Program Chart): Mục đích biểu đồ quá trình ra quyết định nhằm xây dựng kế hoạch ứng phó rủi ro/các tình huống không mong muốn khác. Phòng ngừa hoặc ứng phó các vấn đề tiềm ẩn trước khi xảy ra và phục hồi nhanh chóng khi vấn đề phát sinh.
    -       Biểu đồ mũi tên (Arrow Diagram):Biểu đồ mũi tên nhằm hoạch định các dự án phức tạp và cung cấp khung thời gian theo dõi tiến độ dự án
    LỢI ÍCH:
    Triết lý Deming và hệ thống quản lý chất lượng toàn diện-TQM có các mục tiêu chính như sau:
    1.  Tập trung đáp ứng và vượt quá mong đợi khách hàng;
    2.   Thiết lập giải pháp đáp ứng các yêu cầu khách hàng
    3.    Sử dụng 7 công cụ kiểm soát chất lượng (7 quality control tools) để hiểu các nhu cầu khách hàng và cải tiến quá trình, thu thập và sử dụng các dữ liệu;
    4.     Nâng cao tinh thần làm việc theo nhóm thông qua việc xây dựng chính sách, cải tiến quá trình, và giải quyết vấn đề
    Bảy công cụ quản lý và hoạch định (7MP) kết hợp bảy công cụ kiểm soát chất lượng (7QC tools) nhằm đạt được hai mục tiêu cuối cùng.
    Bảy công cụ quản lý chất lượng không đáp ứng đầy đủ các yêu cầu phát sinh từ thực tế quản lý và các hoạt động nhóm (quá trình sáng tạo và quản lý dự án).Do vậy, người Nhật đã phát triển 7 công cụ quản lý và hoạch định.
     

14 điểm quản trị chất lượng của Edward Deming




14 điểm quản trị chất lượng của Edward Deming

1.     Kiên định với mục tiêu cải tiến sản phẩm và dịch vụ. Create constancy of purpose for improvement of product and service (Organizations must allocate resources for long-term planning, research, and education, and for the constant improvement of the design of their products and services)
2.     Chấp nhận cái mới. Adopt the new philosophy (government regulations representing obstacles must be removed, transformation of companies is needed)
3.     Chấm dứt ngay sự lệ thuộc vào việc kiểm tra mang tính phong trào. Cease dependence on mass inspections (quality must be designed and built into the processes, preventing defects rather than attempting to detect and fix them after they have occurred)
4.     Ngừng ngay việc lựa chọn các bên cung ứng trên cơ sở giá hời. End the practice of awarding business on the basis of price tags alone (organizations should establish long-term relationships with [single] suppliers)
5.     Thường xuyên và liên tục cải tiến hệ thống sản xuất và dịch vụ. Improve constantly and forever the system of production and service (management and employees must search continuously for ways to improve quality and productivity)
6.     Thực hành đào tạo về nghề nghiệp. Institute training (training at all levels is a necessity, not optional)
7.     Khẳng định vai trò của lãnh đạo cao cấp. Adopt and institute leadership (managers should lead, not supervise)
8.     Không e ngại trong việc bày tỏ ý kiến, quan điểm. Drive out fear (make employees feel secure enough to express ideas and ask questions)
9.     Tháo gỡ các hàng rào ngăn cách giữa các bộ phận. Break down barriers between staff areas (working in teams will solve many problems and will improve quality and productivity)
10.                        Hạn chế các khẩu hiệu, lời hô hào suông, thúc đẩy công nhân làm việc mà không cung cấp các phương pháp cho họ. Eliminate slogans, exhortations, and targets for the work force (problems with quality and productivity are caused by the system, not by individuals. Posters and slogans generate frustration and resentment)
11.                        Hạn chế các định mức công việc theo chỉ tiêu số lượng. Eliminate numerical quotas for the work force and numerical goals for people in management (in order to meet quotas, people will produce defective products and reports)
12.                        Xóa bỏ sự cách biệt để người công nhân có quyền tự hào về công việc. Remove barriers that rob people of pride of workmanship (individual performance reviews are a great barrier to pride of achievement)
13.                        Thực hiện một chương trình rộng rãi về đào tạo và sự hoàn thiện. Encourage education and self-improvement for everyone (continuous learning for everyone)
14.                        Mọi người trong công ty phải luôn luôn phấn đấu để theo kịp các biến đổi. Take action to accomplish the transformation (commitment on the part of both [top] management and employees is required).